Danh mục sách điện tử
Chi tiết sách
Đại phương Quảng viên giác kinh

Tác giả: Tỳ kheo Thích Trí Thành

Số lượng còn: 3


Nội dung giới thiệu

Kinh Viên-Giác là bộ kinh thuộc về “Đốn-giáo Đại thừa Liễu-nghĩa”. Bất-luận ở thời chánh-pháp hay thời mạt-pháp, nếu có người nào đủ căn-tánh Đại-thừa hay nhiều kiếp đã tu theo “Viên-Giác”, thì có khả-năng lãnh-thọ được. Vì kinh này trọng-tâm chỉ thẳng “Tâm Viên-Giác”, tức

là Chơn-Tâm, hay là Phật-Tánh mà Phật và chúng-sanh đều bình-đẳng sẵn có. Nhưng vì với lòng “bi-thiết” của các vị Bồ-Tát thương xót chúng-sanh đời vị-lai mà thưa hỏi Đức Phật nói pháp

phương-tiện và tiệm-thứ, hầu mong cho tất cả chúng-sanh đều có thể nương theo giáo-lý của kinh này mà tu-hành, đều liễu-ngộ cả. Nên trong chương Hiền-Thủ Đức Phật nói rằng:

- Kinh này gọi là “Đốn-giáo Đại-thừa”, những chúngsanh đốn-cơ, có căn mau lẹ theo phương-pháp ta nói đây mà tu-hành thì được khai-ngộ.

- Ngoài ra, còn dẫn dắt cho tất cả những hạng người tiệm-tu nữa; là tu từ thấp đến cao đều được khai-ngộ.

I. NGUỒN GỐC BỔN KINH

Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni sanh ở Ấn-Độ nên thuyếtpháp đều dùng tiếng Phạn-ngữ. Sau thời-kỳ kết-tập kinh-điển, cũng phải dùng tiếng Phạn cho đúng với lúc Ngài thuyết-pháp. Khi qua nước Trung-Hoa thì được dịch từ tiếng Phạn ra tiếng Trung-Hoa. Kinh này đề danh là “Đường Kế-Tân

Sa-Môn Phật-Đà-Đa-La”, dịch:

- Kế-Tân :                   là một nước ở xứ bắc Ấn-Độ, nói cho đủ nghĩa là: Yết-Thấp-Đa-La.

- Sa-Môn :                  là danh xưng của người xuất-gia tu theo pháp của Phật.

- Phật-Đà-Đa-La :    Trung-Hoa dịch là Giác-Cứu, là tên của người dịch kinh. Ngài sang Trung Hoa vào đời nhà Đường, thời-kỳ Phật-pháp cực-thịnh.

Căn-cứ theo kinh đề thì bản kinh này thuộc về thờiđại nhà Đường bên Trung-Hoa. Ngài Sa-môn Phật-Đà-Đa-La ở nước Kế-Tân, từ Phạn văn dịch ra Hán-văn, nhưng y-cứ vào lịch-sử để khảo-chứng thì có hai thuyết khác nhau:

1. Theo truyền-thuyết của ngài Khuê-Phong Đại-Sư nói: Niên-hiệu Trinh-Quán, tại đạo-tràng Bảo-Vân ở Đàm- Châu, ngài La-Hầu Mặc-Kiện dịch.

2. Theo bộ khai-nguyên Thánh-Giáo ghi chép rằng: Niên-hiệu Trường-Thọ, năm thứ hai (693) tức là triều Đại- Chu, Võ-Tắc-Thiên đổi nhà Đường thành nhà Chu (Châu). Ngài Phật-Đà-Đa-La dịch ở đất Đông-Đô, chùa Bạch-Mã.

_ Hai thuyết này cách nhau 50 năm nhưng đều đáng nghi là trong thời Đại-Chu, trong mục phát-hành kinh không thấy đề-cập.

_ Còn “Tống Cao Tăng Truyện” thì có nói ngài Giác- Cứu dịch kinh này mà không nói rõ từ thời nào.

_ Trong hai bản dịch, thì bản dịch của ngài Giác-Cứu được phổ-biến, còn bản dịch của ngài La-Hầu Mặc-Kiện chỉ thấy ngài Khuê-Phong Đại-Sư nêu tên trong Viên-Giác Đại Sớ, mà ít phổ-biến.

II. CHỈ BÀY KINH NGHĨA

A. Y-CỨ ĐIỂM CỦA KINH: (ý gốc chủ-yếu của kinh)

- Kinh này chủ-yếu lấy “Cảnh-giới Phật-quả” làm chỗ gốc cho kinh nghĩa.

- Mặc dầu chỗ nói bàn, diễn bao trùm cả muôn pháp, nhưng trước sau chỉ lấy Phật-quả (Chơn-Tâm) làm điểm gốc mà thôi, thí-dụ như:

_ Chương Văn-Thù nói rằng:

- Vô-thượng Pháp-vương có Đại-đà-ra-ni gọi là “Viên-Giác”.

- Mà “Viên-Giác” ở đây là Đấng Vô-thượng Pháp vương mới có (Chơn-Tâm là Phật, là Như-Lai).

- Nên biết cứ-điểm (điểm gốc) của toàn kinh là Phật quả (Chơn-Tâm).

_ Chương Phổ-Hiền nói rằng:

Bao nhiêu sự huyễn-hóa của tất cả chúng-sanh đều sanh trong “Diệu-Tâm Viên-Giác” của Như-Lai (Chơn-Tâm).

_ Chương Phổ-Nhãn nói rằng:

Muốn cầu Tâm Viên-giác thanh-tịnh của Như-Lai (Chơn-Tâm).

_ Chương Kim-Cang-Tạng nói rằng: Đo lường cảnh-giới Viên-giác của Như-Lai (Chơn-Tâm).

_ Chương Di-Lặc nói rằng: Nguyện con ngày nay an trụ nơi Viên-giác của Phật

(Chơn-Tâm).

_ Chương Viên-Giác nói rằng: Tin tâm đại Viên-giác sâu nhiệm của Phật (Chơn-Tâm).

_ Chương Hiền-Thiện-Thủ nói rằng: Kinh này duy hiển bày cảnh-giới của Như-Lai (Chơn-Tâm).

_ Còn theo chỗ lập thuyết của các kinh khác thì:

- Hoặc y theo nơi Tâm

- Hoặc y theo nơi Chúng-Sanh

- Hoặc y theo nơi Ngũ-Ấm

- Hoặc y theo nơi Lục-Trần

- Hoặc y theo nơi Bát-Nhã v.v....

_ Còn kinh Viên-Giác này thì y theo nơi “Tâm-Cảnh Phật-Quả” (Chơn-Tâm).

Như vậy chúng ta đã biết được cái nghĩa y-cứ (chỗ gốc) của kinh này rồi vậy.

B. ĐỘ-CƠ TẠI ĐỐN:

(Là chỉ dạy người có căn-cơ lanh lợi đi thẳng vào Đại thừa Viên-Giác.)

Kinh này vốn chỉ dạy cho hàng có căn-cơ viên-đốn lanh lẹ, đủ sức đi thẳng vào Đại-thừa Viên-Giác. Có hai loại tu:

1. Tiệm-cơ : là trước tu theo tiểu-thừa rồi sau mới tu đại-thừa (tức tu dần dần, từ thấp lên cao).

2. Đốn-cơ : là đi thẳng vào đại-thừa, là người tu không qua tiểu-thừa, mà ngay nhân-địa

của Bồ-Tát cũng không cần trải qua. Mà khi nghe đến Phật-thừa liền có thể lãnh hội vượt bực phàm-phu, liền vào Như-Lai địa. (Tức vào thẳng Phật-địa mà không cần tu tiểu hay tu đại nào cả.)

Nên kinh này dạy cho hàng “Đốn-cơ tại đốn” xin đem ra dẫn chứng ở những đoạn như sau:

1. Chương Văn-Thù nói: Biết mà không phân-biệt (là không dính mắc cảnh bị biết) là dùng trực-tâm tự biết.

2. Chương Phổ-Hiền nói:

- “Biết huyễn, tức ly huyễn” mà không cần phương tiện để ly.

- Mà “Ly huyễn tức Giác” nên không có thứ lớp, trước sau để được giác.

3. Chương Thanh-Tịnh-Tuệ nói:

- “Ở trong tất cả thời không khởi vọng-niệm”.

- Đối với vọng-tâm cũng không cần ngăn dứt.

- Trụ trong cảnh vọng-tưởng chẳng cần thêm hiểu biết (là nghị-luận, luận bàn).

- Còn đối với cảnh không hiểu biết, cũng chẳng cần biện-minh “chơn-thật”, mà Viên-Giác (Chơn-Tâm) vẫn làu làu tỏ sáng.

4. Chương Hiền-Thiện-Thủ nói:

- Kinh này gọi là “Đốn-giáo Đại-thừa”.

- Còn chúng-sanh “Đốn-cơ” theo đây mà ngộ-nhập.

- Đốn-giáo: Là giáo-lý dạy cho thành-tựu tức khắc, mau chóng, tốc-hành Phật-quả.

- Đốn-cơ: Là căn-cơ, là căn-tánh mau lẹ, nghe đốn giáo mà đốn-ngộ Phật-đạo liền.

- Dầu vậy kinh này cũng nhiếp tất cả mọi tiệm-tu, ví như biển lớn chẳng nhường dòng nhỏ.

- Nên kinh chính là “Độ-cơ tại-đốn”, mà cũng phụ nhiếp cả tiệm-cơ.

- Do đó, nếu ai nghe kinh này trước được phần lý-giải rồi dần dần thực-hành tu-tập quyết không nghi-ngại.

- Nhưng có người bất chợt được đốn-ngộ thì cũng là căn-cơ kinh này chánh-độ vậy.

C. CHÚ-TRỌNG Ở HẠNH:

Trong nền giáo-lý của đạo Phật, đều luôn thành-lập trên ba phần như: Cảnh - Hạnh - Quả

- Cảnh : là đối-tượng của sự nhận-thức.

- Hạnh : là tu-tập, rèn luyện đến chỗ thật-sự của Phẩm-hạnh, Đức-hạnh.

- Quả : là xác chứng cho công-hiệu kết-quả.

Trong kinh Phật:

- Loại nào chú-trọng về Cảnh: thì thường thuyết-giảng nhiều về cảnh.

- Loại nào chú-trọng về Hạnh, Quả: thì thuyết-giảng nhiều về Hạnh và Quả.

- cũng có loại chú-trọng cả ba.

Riêng kinh Viên-Giác này thì đặc-biệt chú-trọng về

Hạnh-Quả:

- Mặc dù có nói đến Cảnh,

- mà Cảnh, chỉ ở nơi Hạnh.

- Có giảng đến Quả,

- nhưng Quả cũng chỉ là của Hạnh.

_ Như ngài Văn-Thù thưa hỏi về điểm cơ-bản phát khởi “Pháp-Hạnh” ở nơi nhân-địa của Như-Lai là cảnh đố idiện của kinh này, chính là nhân-địa của sự khởi-hành, điều này có thể thấy được.

_  Còn hai chương Phổ-Hiền và Phổ-Nhãn thì hoàn toàn có thể thuyết-giảng về việc tu Hạnh.

_  Ngoài ra, trong kinh-văn còn nói nhiều về:

_  Hạnh-vị, Hạnh-pháp, Hạnh-hóa-hoạn (là nhờ Hạnh

hóa giải các nạn tai).

- Hạnh Phương-tiện v.v....

- Tất cả đều chú-trọng về Hạnh cả.